Canh tân Đoàn sủng của các hội dòng trong bối cảnh Việt Nam hôm nay (Lm. JB. Trần Hữu Hạnh)

0

CANH TÂN ĐOÀN SỦNG CỦA CÁC HỘI DÒNG TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HÔM NAY (DỰA THEO LỜI MỜI GỌI CỦA ĐỨC THÁNH CHA TRONG THƯ NHÂN DỊP NĂM VỀ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN 2015). 

Thư Đức Thánh Cha Nhân Dịp Năm Về Đời Sống Thánh Hiến 2015 kêu gọi những người sống đời thánh hiến dấn thân canh tân đoàn sủng, kiểm điểm sự trung thành đối với sứ mạng đã được ủy thác, tiếp tục làm phong phú và thích nghi, nhưng không đánh mất đi căn tính của mình. Để đáp lại mời gọi của ngài, chúng ta cần tìm hiểu về ơn đoàn sủng của mỗi Hội dòng, sự canh tân ơn đoàn sủng đó, làm phong phú và thích nghi ơn đoàn sủng đó trong bối cảnh Việt Nam hôm nay.

ĐOÀN SỦNG CỦA MỖI HỘI DÒNG

Mỗi Hội dòng là một bông hoa trong vườn hoa của Giáo hội. Chính ơn đoàn sủng tạo ra sự độc đáo và phong phú này. Đây chính là căn tính của mỗi Hội dòng, nó tạo ra sự khác biệt giữa dòng này và dòng khác. Mỗi một hội dòng như một gia đình, cùng có một Đấng sáng lập là cha, là mẹ, và mọi thành viên đều cùng chia sẻ một ân ban của Thần Khí. Mỗi Hội dòng chỉ nhận được một đặc sủng, được ban qua Đấng sáng lập. Đấng sáng lập chia sẻ Đặc sủng (đoàn sủng) này cho cả Hội dòng để mọi thành viện cùng sống đặc sủng ấy và làm phong phú thêm đặc sủng ấy qua dòng thời gian. Những người đến sau phải tìm hiểu nó tốt hơn và sống đặc sủng đó trong sự nhận thức về trách nhiệm truyền lại cho thế hệ kế tiếp một cách trung thành.

Đặc sủng được coi là ân huệ mà Thần Khí ban cho mỗi người hay mỗi Hội dòng vì lợi ích chung. Văn kiện của Bộ Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ và Bộ Giám mục đã nói về đặc sủng của đấng sáng lập như sau: “Đặc sủng của các Đấng sáng lập biểu lộ như là một kinh nghiệm về Thần Khí, được truyền lại cho các môn đệ của họ để sống, giữ gìn, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài hòa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn lên.” (MR 11) Đây là một cảm nghiệm đặc biệt về Thần Khí của Đấng sáng lập; qua đó, giúp vị này nhận thức một hướng đi mới trong đường nên thánh và hoạt động tông đồ. Như thế, đoàn sủng của mỗi dòng tu bao gồm hai khía cạnh: linh đạo (con đường nên thánh riêng của Hội dòng) và sứ vụ. Bài viết này chú trọng đến việc canh tân sứ vụ của mỗi dòng tu.

Mỗi dòng có sứ vụ/sứ mệnh riêng biệt. Đây chính là mục đích của vị sáng lập khi thành lập dòng. Mỗi dòng được thành lập để đáp ứng nhu cầu nào đó của Giáo hội hoặc xã hội: dòng Lasan: giáo dục; dòng Gioan Thiên Chúa: phục vụ bệnh nhân; Tu hội Xuân Bích: đào tạo linh mục; dòng Phaolô Thiện Bản: rao giảng Đức Kitô bằng sách báo và các phương tiện truyền thông,… Đặc sủng luôn gắn liền với sứ mệnh truyền giáo, mỗi hội dòng có một sứ mệnh truyền giáo riêng biệt, tùy theo đặc sủng của mình (x. VC 19, 72, 46; PC 10, 20; Can 673, 674, 676, 677).

Muốn có đổi mới, chúng ta cần biết chúng ta là ai. Mỗi hội dòng phải ra sức giữ lấy căn tính của mình để khỏi rơi vào tình trạng mập mờ, không xác định được vị trí và nhiệm vụ của mình trong đời sống Giáo hội (x. FLC 46).

CANH TÂN ĐOÀN SỦNG NHƯ THẾ NÀO?

Để canh tân đoàn sủng, các Hội dòng cần phải trung thành với ơn đoàn sủng của mình, làm phong phúthích nghi vào trong bối cảnh mới. Sắc lệnh Perfectae Caritatis của công đồng Vatican II đưa ra nhiều nguyên tắc hướng dẫn cho việc canh tân đời tu. Hai nguyên tắc căn bản để canh tân là: trở về nguồn và thích nghi đời tu vào bối cảnh hiện tại. Để đổi mới đời sống thánh hiến, mỗi hội dòng phải khám phá lại tinh thần và mục đích của đấng sáng lập (x. PC 2b). Đức Phaolô VI đã qui chiếu về công đồng và nhắc nhở các Hội dòng: “Công đồng đã dạy rằng các tu sĩ phải duy trì một cách trung thành tinh thần của các đấng sáng lập, lối sống Tin mừng và gương thánh thiện của họ. Các tu sĩ phải nhận ra nơi đây một trong những nền tảng cho sự canh tân hiện nay và một trong những tiêu chuẩn chắc chắn nhất cho sự quyết định về loại  hoạt động của mỗi hội dòng.” (ET 11) Ngài chỉ ra rằng mỗi cá nhân của mỗi hội dòng được định hình bởi những tính cách đặc biệt về tinh thần và đặc sủng của đấng sáng lập. Mỗi hội dòng phải qui chiếu về với những nguồn gốc này trước khi nó có thể đem lại một sự canh tân đích thực và trung thành. 

Trong Tông huấn về Đời sống thánh hiến, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II căn dặn các hội dòng phải trung thành với những đặc sủng này và sau đó trung thành với gia sản thiêng liêng được tạo lập nên trong mỗi hội dòng. Họ phải duy trì chúng trong những cộng đoàn mà chúng đã lập nên. Đặc sủng phải xây dựng nguyên tắc sống của mỗi hội dòng tại bất cứ thời điểm nào (x. VC 36, 37).

Thánh bộ Các hội dòng tận hiến và các tu đoàn tông đồ đã nhấn mạnh đến một trong các khía cạnh của thường huấn là: “Trung thành với đoàn sủng riêng, qua việc luôn tìm hiểu sâu xa về đấng sáng lập, về lịch sử của hội dòng, về tinh thần và sứ vụ của hội dòng, và cùng hỗ trợ nhau sống đoàn sủng ấy, xét về phương diện cá nhân cũng như cộng đoàn.” (PI 68) Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng yêu cầu các hội dòng chú tâm vào việc đào tạo theo đoàn sủng riêng biệt của họ, để họ có thể thực hiện sứ mệnh loan báo Tin mừng tùy theo đoàn sủng của mình (x. VC 68, 72). 

Sự phát triển của hội dòng làm phong phú thêm đặc sủng đấng sáng lập. Chúa Thánh Thần luôn mời gọi các hội dòng mở ra và dấn thân vào trong những bối cảnh khác nhau. Trong mỗi Tổng hội/ Tổng tu nghị, hội dòng cần nhìn lại quá khứ của mình, đọc và giải thích nó để để tìm ra hướng đi cho tương lai của mình. Điều này có nghĩa là họ phải luôn duy trì ký ức sống động về đấng sáng lập của họ và luôn tiến tới một sự hiểu biết rõ hơn về đặc sủng nguồn gốc của họ, về sứ mệnh của họ trong Giáo hội và trong thế giới. Qua đó, họ có thể  làm cho đấng sáng lập trở thành người tiên phong của Thần khí trong thời của họ. Đó chính là chiều kích ngôn sứ của đấng sáng lập, như George đã khẳng định: “Các đấng sáng lập ở trước chúng ta, đi trước chúng ta.”

“Các Bề trên và các phần tử hãy trung thành duy trì sứ mệnh và các công tác riêng của dòng. Tuy nhiên, họ hãy biết thích ứng chúng cách khôn ngoan chiếu theo nhu cầu của thời thế và địa phương, kể cả bằng việc sử dụng các phương tiện mới mẻ và thích ứng.” (Can 677 §1). 

CANH TÂN ĐOÀN SỦNG TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HÔM NAY

Trước năm 1975, các dòng tu đều phục vụ theo sứ vụ của mình. Sau năm 1975, tất cả các phương tiện để thi hành sứ vụ của các dòng tu đã được quốc hữu hóa như: trường học, bệnh viện, nhà dưỡng lão, nhà cô nhi, trại phong, …Hoạt động tông đồ của các dòng tu bị hạn chế tối đa. Bên cạnh đó, đời sống kinh tế nói chung gặp rất nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, các dòng tu chỉ cố gắng sao cho có thể sống còn. Không còn phương tiện để thi hành sứ vụ chính, các tu sĩ làm bất cứ công việc gì để có thể tồn tại. Đây thực sự là giai đoạn khủng hoảng về căn tính của các dòng tu. Trải qua một giai đoạn dài như thế, các dòng tu có thể dần dần mất ý thức về sứ vụ chính của mình, những tu sĩ trong giai đoạn này không thể sống, giữ gìn, đào sâu và không ngừng phát triển đoàn sủng của mình như định nghĩa về đặc sủng được nói đến ở trên. Và như vậy, họ không thể truyền lại cho thế hệ kế tiếp một cách chính xác và trung thành. Và nếu các dòng tu còn ý thức về sứ vụ, nhưng điều kiện không cho phép, các dòng tu cũng gặp rất nhiều khó khăn để thi hành sứ vụ riêng biệt của mình. Và hậu quả là nhiều dòng tu ngày nay thi hành những sứ vụ giống nhau. Nhiều hội dòng cố gắng thích nghi vào trong bối cảnh mới, nhưng cũng không dễ dàng. Điều quan trọng là thích nghi vào môi trường mới thế nào mà vẫn giữ được căn tính của Hội dòng. Chẳng hạn, sứ vụ chính của dòng là giáo dục: mở trường để đào tạo về kiến thức và đức tin. Nhưng trong bối cảnh mới này, các Hội dòng không thể mở trường được, vậy phải thích nghi như thế nào mà vẫn giữ được sứ vụ chính của mình? 

Các văn kiện của Giáo hội đã lưu ý chúng ta về sự canh tân sứ vụ này:

Dù nhu cầu mục vụ cấp bách thế nào đi nữa, chúng ta luôn phải nhớ rằng sự đóng góp tốt nhất mà một hội dòng có thể đem lại cho Giáo hội là sự trung thành với đoàn sủng của họ. Hội dòng càng hiện diện theo đoàn sủng của mình, càng đem lại nhiều hoa trái (x. FLC 61; MR 49- 50). Trong bối cảnh xét lại các hình thức hoạt động tông đồ, văn kiện “Những yếu tố cốt yếu của đời tu” (số 27) đã đưa ra những khuyến cáo về ba cơn cám dỗ khi xây dựng kế hoạch hoạt động tông đồ:

1/ Muốn ôm đồm tất cả mọi hoạt động tông đồ,

2/ Bỏ đi những hình thức hoạt động truyền thống và bền vững theo đặc sủng của dòng, để chạy theo những hoạt động mà ta cho là đáp ứng nhu cầu xã hội tức thời hơn, nhưng lại không hợp với đặc sủng của dòng,

3/ Phân tán nhân lực dòng vào nhiều hoạt động ngắn hạn, chỉ liên hệ đến đặc sủng nguyên thủy một cách mơ hồ; do đó, với thời gian, tính cách đồng nhất trong việc thực hiện đặc sủng của dòng sẽ bị tổn thương, và đó sẽ là một mất mát đối với sứ mạng của Hội thánh.

Những khuyến cáo trên của Bộ Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ rất đúng với bối cảnh Việt Nam hôm nay. Ba cám dỗ trên có thể dẫn một Hội dòng tới chỗ mở ra thêm nhiều sứ vụ mà không liên hệ gì đến đặc sủng. Dần dần những sứ vụ được thêm vào này làm lu mờ sứ vụ chính của dòng, hoặc đứng ngang hàng với sứ vụ chính, hoặc lại trở thành sứ vụ chính của Hội dòng và với thời gian căn tính của dòng sẽ bị lu mờ. 

Làm phong phú thêm ơn đoàn sủng, nghĩa là mở ra những hoạt động liên quan đến sứ vụ chính của dòng, chứ không phải là làm phong phú thêm bằng cách mở ra các hoạt động không dính dáng gì đến sứ vụ chính của dòng. 

Mỗi Hội dòng cũng có thể có thêm một số hoạt động khác với sứ vụ chuyên biệt của mình, nhưng không nên để cho những hoạt động này trở thành những hoạt động chính. Nên để cho một số phần tử nào đó phụ trách mà thôi.    

Thư Đức Thánh Cha Nhân Dịp Năm Về Đời Sống Thánh Hiến 2015 cũng nhắc nhở chúng ta: “Anh chị em đừng chiều theo cám dỗ của những con số và hiệu năng.” Trong lá thư này, Đức Thánh Cha cũng đang đặt câu hỏi cho mỗi Hội dòng chúng ta: “Năm Đời Sống Thánh Hiến hỏi chúng ta về lòng trung thành với sứ mệnh đã được trao phó cho chúng ta. Các tác vụ, các hoạt động của chúng ta, sự hiện diện của chúng ta, có đáp lại những gì mà Thánh Thần đã đòi hỏi các Vị Sáng Lập của chúng ta, có xứng hợp với việc đi theo các mục đích của sứ mệnh trong xã hội và trong Giáo Hội ngày nay không?”

Sắc lệnh Perfectae Caritatis của công đồng Vatican II đã kêu gọi các dòng tu trở về với mục đích của đấng sáng lập (mục đích lập dòng ban đầu) và thích nghi vào môi trường mới một cách trung thành và sáng tạo. Các hội dòng chỉ có thể trung thành với đặc sủng nguồn gốc khi họ biết thế nào để đọc được những dấu chỉ của thời đại và biết thế nào để đáp ứng lại những nhu cầu của Giáo hội và xã hội trong thời hiện tại. Trung thành mà không thích nghi vào bối cảnh mới, sẽ dẫn đến chỗ suy tàn; đổi mới mà không bám vào gốc của nó, sẽ dẫn đến chỗ lập nên một hội dòng mới. Đó là lý do tại sao sự đổi mới đời sống tu trì không bao giờ được làm một lần cho tất cả. Sai lầm có thể xảy ra là khi chúng ta “hiện đại hóa” đặc sủng, thay mới hoàn toàn để cho nó hấp dẫn hơn, hoặc sử dụng đặc sủng của đấng sáng lập để phục vụ cho chính chúng ta, để biện minh cho những quyết định và hành động của chúng ta. Điều này có thể là tốt, nhưng nó không phải là mục đích của đấng sáng lập. Nó có thể phá đi những gì đã được dày công xây dựng và làm mất đi đặc tính và căn tính của hội dòng. 

Cộng đoàn phải luôn tìm kiếm cách tốt hơn để thích hợp với nhu cầu “ngôn sứ” của đấng sáng lập của họ. Trong cách này, cộng đoàn tìm cách để nhận ra và đáp ứng những nhu cầu của thời đại trong mọi tình huống. Trở về với sứ vụ nguồn gốc của mình, thích nghi vào bối cảnh hôm nay một cách trung thành và sáng tạo, và như thế đoàn sủng của dòng chúng ta càng thêm phong phú và mang lại nhiều hoa trái trong đời sống Giáo hội.

Thư Đức Thánh Cha  kêu gọi trong Năm Đời Sống Thánh Hiến này, là dịp thuận lợi mà mỗi gia đình đặc sủng nhớ lại cội nguồn của mình và sự phát triển lịch sử của mình, để tạ ơn Thiên Chúa: “Vậy Cha mời tất cả các cộng đoàn Kitô hãy sống Năm này trước hết để tạ ơn Chúa và nhớ lại với lòng biết ơn các ân sủng đã nhận được và rồi chúng ta đã nhận được các ân sủng này nhờ sự thánh thiện của Các Vị Sáng Lập Nam và Nữ và về sự trung thành của biết bao nhiêu người thánh hiến cho đặc sủng riêng biệt.”

Lm. JB. Trần Hữu Hạnh, CSF

——————-

1 Thư Đức Thánh Cha Nhân Dịp Năm Về Đời Sống Thánh Hiến 2015.

2  Các đặc sủng được ban là để phục vụ lợi ích chung, phục vụ cộng đoàn, nên còn được gọi là Đoàn sủng

3 X.Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 4, Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ. Rôma, 1993, tr. 577- 578.

4 X. Đức Phaolô VI, bài nói chuyện với một số tu sĩ ngày 31/3/1969, trong AAS 61 (1969) 266;  và trong bài giảng ngày 4/3/1964; ET 11.

5 X. Futrell, J.C. Discovering the Founder’s charism, in The Way Supplement 14 (1971), 62,70.

6 George, Critères pour découvrir et vivre le charisme du Fondateur aujourd’hui, trong Vie Oblate Life 36 (1977) 39.

7 X. Thư Đức Thánh Cha Nhân Dịp Năm Về Đời Sống Thánh Hiến 2015.

8 X. Antonio Romano. The Charism of the Founders: The person and Charism of Founders in Contemporary Theological Reflection. Ireland: St Pauls, 1994, tr.151-156; Teresa Ledóchowska Osu. In Search of the Charism of the Institute of the Ursulines of the Roman Union. Roma: Ursulines of the Roman Union Via Nomentana 236, 1976, tr. 17.

9 X. Antonio Romano, The Charism of the Founders, tr.171.

10 X. Antonio Romano, The Charism of the Founders, tr. 181.

11 X.Thư Đức Thánh Cha Nhân Dịp Năm Về Đời Sống Thánh Hiến 2015.

Share.

About Author

Comments are closed.