Chúa nhật lễ Hiện xuống

0

BÀI ĐỌC I: Cv 2, 1-11

“Các vị được tràn đầy Chúa Thánh Thần và bắt đầu lên tiếng nói”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, tất cả các môn đệ đều tề tựu một nơi, bỗng từ trời phát ra tiếng động như tiếng gió mạnh thổi đến, lùa vào đầy nhà nơi họ đang sum họp. Lại có những lưỡi như thể bằng lửa xuất hiện và rải rác đậu trên từng người. Hết thảy mọi người đều được tràn đầy Chúa Thánh Thần, và bắt đầu nói tiếng khác nhau tuỳ theo Thánh Thần ban cho họ nói.

Khi ấy, cư ngụ tại Giêrusalem, có những người Do-thái đạo đức từ khắp các nước dưới gầm trời tụ về. Nghe tiếng ấy phát ra thì đoàn lũ tuôn đến, tâm trí bỡ ngỡ, vì mỗi người đều nghe các môn đệ nói tiếng thổ âm của mình. Mọi người đều sửng sốt và bỡ ngỡ nói rằng: “Nào tất cả những người đang nói đây không phải là người Galilê ư ? Nhưng tại sao mỗi người chúng tôi lại nghe họ nói tiếng bản xứ của chúng tôi: Chúng tôi là người Parthi, Mêđi, Êlam, Mêsopotamia, Giuđêa, Cappađôcia, Pôntô, Tiểu Á, Phrygia, Pamphylia, Ai-cập, Lybia, cận Cyrênê, và người Rôma cư ngụ ở đây, là Do-thái và tòng giáo, là người Crêta và Á-rập, chúng tôi đều nghe họ nói tiếng của chúng tôi mà ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa!”

[Mọi người đều sửng sốt bỡ ngỡ nói với nhau rằng: “Thế này nghĩa là gì ?” Nhưng lại có người khác nhạo báng rằng: “Họ đầy rượu rồi”.]

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 103, 1ab và 24ac. 29bc-30. 31 và 34

Đáp: Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến, và xin canh tân bộ mặt trái đất (c. 30).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Ngài quá ư vĩ đại! Lạy Chúa, thực nhiều thay công cuộc của Ngài! Địa cầu đầy dẫy loài thụ tạo của Ngài. – Đáp.

2) Ngài rút hơi thở chúng đi, chúng chết ngay và chúng trở về chỗ tro bụi của mình. Nếu Ngài gởi hơi thở tới, chúng được tạo thành, và Ngài canh tân bộ mặt trái đất. – Đáp.

3) Nguyện vinh quang Chúa còn tới muôn đời, nguyện cho Chúa hân hoan vì công cuộc của Chúa. Ước chi tiếng nói của con làm cho Chúa được vui; phần con, con sẽ hân hoan trong Chúa. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: 1 Cr 12, 3b-7. 12-13

“Trong một Thánh Thần, tất cả chúng ta được thanh tẩy để làm nên một thân thể”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.

Anh em thân mến, không ai có thể nói “Đức Giêsu là Chúa” mà lại không do Thánh Thần. Vậy có nhiều thứ ân sủng, nhưng chỉ có một Thánh Thần. Có nhiều thứ chức vụ, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều thứ công việc, nhưng chỉ có một Thiên Chúa, là Đấng làm mọi sự trong mọi người. Sự xuất hiện của Thánh Thần được ban cho từng người, tuỳ theo lợi ích.

Cũng như chỉ có một thân thể nhưng có nhiều chi thể, mà các chi thể tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể, thì Chúa Kitô cũng vậy. Vì chưng trong một Thánh Thần, tất cả chúng ta được thanh tẩy để làm nên một thân thể, cho dù là Do-thái hay dân ngoại, nô lệ hay tự do: tất cả chúng ta đã uống trong một Thánh Thần.

Đó là lời Chúa.

CA TIẾP LIÊN

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến,

và tự trời toả ánh quang minh của Ngài ra!

Lạy Cha kẻ cơ bần, xin Ngài ngự đến;

Đấng ban ân huệ, Đấng soi sáng tâm hồn, xin ngự đến!

Lạy Đấng an ủi tuyệt vời,

là khách trọ hiền lương của tâm hồn,

là Đấng uỷ lạo dịu dàng.

Chúa là sự nghỉ ngơi trong cảnh lầm than,

là niềm an ủi trong lúc lệ rơi.

Ôi sự sáng chứa chan hồng phúc,

xin chiếu soi tràn ngập tâm hồn tín hữu của Ngài.

Nếu không có Chúa trợ phù,

trong con người còn chi thanh khiết, không còn chi vô tội.

Xin Chúa rửa sạch điều nhơ bẩn, tưới gội chỗ khô khan,

và chữa cho lành nơi thương tích.

Xin uốn nắn điều cứng cỏi, sưởi ấm chỗ lạnh lùng,

chỉnh đốn lại chỗ trật đường.

Xin Chúa ban cho các tín hữu,

là những người tin cậy Chúa, được ơn bảy nguồn.

Xin ban cho họ được huân nghiệp nhân đức,

được hạnh phúc cứu độ và được hoan hỉ đời đời.

(Amen. Alleluia.)

Tin Mừng: Ga 20,19-23

19 Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: “Bình an cho các con!” 20 Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. 21 Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: “Bình an cho các con! Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. 22 Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, 23 các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”.

Suy niệm (Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng)

Thời khởi nguyên vũ trụ, khi dựng nên loài người, Thiên Chúa đã thổi sinh khí ban cho con người sự sống. Hôm nay, Ðức Giêsu Phục Sinh cũng thổi Thần Khí vào các môn đệ. Các ông được lãnh nhận Thánh Thần. Lãnh nhận sự sống của Ðức Giêsu. Trong Chúa Thánh Thần, các môn đệ sẽ tiếp tục sứ mạng của Ðức Giêsu: Thông ban sự sống và ơn tha tội. Trong Chúa Thánh Thần, Hội Thánh của Ðức Giêsu được hình thành từ hạt nhân là các môn đệ.

Mỗi tín hữu chúng ta được Chúa Thánh Thần qui tụ, thôi thúc và ban ơn để làm chứng cho Ðức Giêsu ngay trong cuộc sống của mình. Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta phá vỡ mọi ngăn cách, kỳ thị để mọi người thực sự liên đới, cảm thông và hiệp nhất với nhau. Ðể mọi người được sống trong hạnh phục.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, trước khi về trời, Chúa đã ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ để các ông được thêm sức mạnh và sự hăng say làm chứng cho Chúa. Mỗi người chúng con đã được lãnh nhận Thánh Thần qua bí tích Rửa Tội và Thêm Sức. Chúng con cũng có sứ mạng đem Chúa đến cho người khác. Nhưng trong cuộc sống, có nhiều lúc chúng con vẫn còn nhát đảm, sợ hãi không dám tuyên xưng Chúa, không dám sống theo sự thật. Xin Chúa ban Chúa Thánh Thần để Ngài củng cố niềm tin và đổi mới chúng con, để chúng con can đảm sống đời chứng nhân. Amen.

Ghi nhớ : “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con: Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Suy niệm 1: (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

Sợi chỉ đỏ

– Bài đọc I: Tường thuật việc Chúa Thánh Thần hiện xuống hôm lễ Ngũ Tuần.

– Đáp ca: Lạy Chúa, xin cử Thánh Thần tới, để canh tân địa cầu.

– Bài đọc II: Chúng ta đã được chịu phép Rửa nhờ một Thánh Thần để trở nên một thân thể.

– Phúc Âm: Buổi chiều ngày phục sinh, Chúa Giêsu thổi hơi ban Thánh Thần cho các môn đệ.

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Lễ Hiện xuống hôm nay kết thúc mùa Phục sinh. Chúng ta hãy nhìn lại những bước mà Phụng vụ đã dẫn chúng ta đi qua: Chúa Giêsu đã nhập thế sống với loài người, Ngài đi khắp nơi rao giảng Phúc Âm, rồi Ngài chịu nạn chịu chết, nhưng Ngài đã sống lại và lên trời. Hôm nay Ngài sai Chúa Thánh Thần đến để thánh hóa loài người. Như thế, Chúa Thánh Thần là Đấng hoàn tất chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Dâng Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa tuôn đổ đầy tràn Thánh Thần xuống trên chúng ta, để chúng ta hoàn thành sứ mạng cứu rỗi bản thân chúng ta và mọi người.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

– Chúng ta có lỗi vì ít nghĩ đến Chúa Thánh Thần là Đấng Thiên Chúa đã ban để hỗ trợ chúng ta. Xin Chúa thương xót…

– Chúng ta thường làm việc theo suy nghĩ riêng chứ không theo sự soi sáng hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Xin Chúa Kitô thương xót…

– Chúa Thánh Thần muốn mọi người hợp nhất với nhau, nhưng chúng ta thường chia rẽ. Xin Chúa thương xót…

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Cv 2,1-11: Tường thuật việc Chúa Thánh Thần hiện xuống hôm lễ Ngũ Tuần.

– Vâng theo lời căn dặn của Chúa Giêsu phục sinh, các tông đồ tụ họp trong nhà Tiệc Ly để chờ đón nhận điều Ngài đã hứa.

– Sáng ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Giêsu thực hiện lời hứa ấy: Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa. Lưỡi tượng trưng cho lời nói. Lửa tượng trưng tình yêu và lòng nhiệt thành. Nhờ Chúa Thánh Thần, các tông đồ đã nhiệt thành rao giảng Phúc Âm, làm chứng cho Chúa Giêsu.

2. Đáp ca: Tv 103

Tv này ca tụng những việc kỳ diệu mà Thiên Chúa đã làm do “sinh khí” của Ngài, tức là do Chúa Thánh Thần.

3. Bài đọc II: 1 Cr 12,3b-7.12-13

Thánh Phaolô kêu gọi tín hữu đoàn kết hợp nhất nhau trong Chúa Thánh Thần:

– Trong Giáo Hội sơ khai, Chúa Thánh Thần ban nhiều đặc sủng khác nhau cho các tín hữu. Nhưng mọi đặc sủng đều nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đoàn.

– Vì thế, một mặt các tín hữu phải tránh chia rẽ nhau, mặt khác phải tận dụng mọi ơn ban của Chúa Thánh Thần để xây dựng thân thể Giáo Hội.

4. Phúc Âm: Ga 20,19-23

Buổi chiều chính hôm lễ phục sinh, Chúa Giêsu đã ban Thánh Thần cho các môn đệ (Theo quan điểm của Luca thì Thánh Thần được ban hôm lễ Ngũ tuần).

Chúa Thánh Thần được ban đồng thời với lời chúc bình an, quyền tha tội và lời sai các ông ra đi. Từ đó, ta có thể thấy được những ý nghĩa sau:

– Ơn ban cao trọng nhất của Chúa Thánh Thần là Bình an, đặc trưng của thời Messia.

– Ơn cao trọng thứ hai của Chúa Thánh Thần là Tha tội: chính nhờ được tha tội mà con người được bình an thật.

– Ơn ban Thánh Thần nhằm giúp Giáo Hội ra đi loan Phúc Âm cứu rỗi.

Suy niệm 2 (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

THÁNH THẦN ĐƯỢC BAN CHO GIÁO HỘI

A. DẪN NHẬP

 Sau khi Chúa Giêsu đi vào cuộc tử nạn, các Tông đồ trở nên hoang mang, sợ sệt, đang tụ họp trong nhà Tiệc ly, chưa biết phải xử sự làm sao, thì chiều ngày phục sinh, Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra với các ông, trấn an và thổi hơi trao ban Thánh Thần cho các ông: “Anh em hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần”. Và 50 ngày sau nữa, vào sáng ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống một cách công khai để ban cho các ông những đặc sủng của Ngài để các ông mạnh dạn đi loan báo Tin mừng và xây dựng Giáo hội.

 Đức Giêsu đã ban Thánh Thần cho các Tông đồ ngay khi Ngài hiện ra lần thứ nhất tại nhà Tiệc ly vào buổi chiều hôm Phục sinh. Sau khi chào các ông, Đức Giêsu đã ban Thánh Thần cho các ông khi Ngài thở hơi và nói: “Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Các con tha tội ai, thì người ấy được tha, các con cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23). Còn ngày lễ Ngũ tuần chỉ là dịp Đức Giêsu ban Thánh Thần cho các ông một cách đặc biệt, với đặc sủng ngôn ngữ, đồng thời cũng là dịp giới thiệu Giáo hội cho muôn dân và chính thức sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng cứu độ cho mọi người.

 Lịch sử cứu rỗi còn tiếp tục qua lịch sử nhân loại và ngày hôm nay lại khai mở một giai đoạn mới khi Thánh Thần hiện xuống cách huy hoàng vĩ đại trên một nhóm người và biến cải họ nên cột trụ một tập đoàn mới là Hội thánh. Hôm nay trong nhà Tiệc ly chỉ có 120 người, nhưng rồi đây sẽ lan tràn khắp thế giới, trở thành Giáo hội hoàn vũ. Ngày nay Chúa Thánh Thần vẫn còn được ban xuống cho chúng ta, đặc biệt với đặc sủng ngôn ngữ, để chúng ta biết cao rao những kỳ công của Chúa, giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người và góp phần xây dựng Hội thánh của Chúa ở trần gian này.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1Cv 2,1-11

 Bài sách Công vụ tông đồ hôm nay tường thuật việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ trong nhà Tiệc ly ngày lễ Ngũ tuần.

 Theo lời căn dặn của Đức Kitô phục sinh, các Tông đồ tập họp lại trong nhà Tiệc ly để đón nhận Chúa Thánh Thần. Đây chính là Đấng Bảo trợ mà Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ trước khi đi vào cuộc tử nạn. Hôm nay ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Giêsu chính thức gửi Chúa Thánh Thần cho các Tông đồ để Ngài cư ngụ và hoạt động nơi các ông bằng sức mạnh của Ngài, thôi thúc họ và ban cho họ những đặc sủng, nhất là đặc sủng ngôn ngữ.

 Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông đồ bằng hình lưỡi lửa cho mỗi người. Lưỡi tượng trưng cho lời nói, lửa tượng trưng cho tình yêu và lòng nhiệt thành. Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà các Tông đồ sẽ đi rao giảng Tin mừng và làm chứng cho Ngài khắp mọi nơi.

+ Bài đọc 21Cr 20,19-23

 Chúa Thánh Thần được ban cho các Tông đồ và Giáo hội đặc biệt trong ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Thánh Thần là hồn sống của Giáo hội, Ngài luôn hoạt động trong Giáo hội cách tích cực. Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Côrintô hãy hiệp nhất trong Thánh Thần. Trong Giáo hội sơ khai, Chúa Thánh Thần ban nhiều đặc sủng khác nhau cho các tín hữu, những đặc sủng ấy nhằm ích lợi cho mọi người. Vì thế, các tín hữu phái tránh chia rẽ, đừng làm gì khả dĩ gây phương hại cho sự đoàn kết; trái lại, phải dùng các ơn ấy để xây dựng thân thể Chúa Kitô là Giáo hội.

+ Bài

Tin mừng: Ga 20,19-23

 Trong các sách Tin mừng, không chỗ nào nói tới việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ, chỉ trừ sách Công vụ tông đồ (Cv 2,1-11). Tuy nhiên, Hội thánh muốn lấy lại bài Tin mừng Chúa nhật II Phục sinh để cho biết: ngay buổi chiều hôm lễ Phục sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra với các Tông đồ trong nhà Tiệc ly và đã ban Chúa Thánh Thần cho các ông: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”. Như thế, trước khi ủy thác sứ vụ cho các môn đệ, Chúa Giêsu phục sinh đã thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông, và nhờ đó, các môn đệ giờ đây thực thi sứ mạng trong ân sủng và quyền năng của Chúa Thánh Thần.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Đặc sủng ngôn ngữ

I. CHÚA THÁNH THẦN ĐƯỢC BAN XUỐNG

 Trong lễ Hiện xuống hôm nay, Giáo hội đọc bài Tin mừng kể việc Đức Giêsu hiện ra lần thứ nhất với tập thể tông đồ chính ngày Phục sinh. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu đã hiện ra với một số phụ nữ (Mt 28,9), trong đó có bà Maria Magdala (Ga 20,11t), bà Gioanna và bà Maria mẹ Giacôbê (Lc 24,9t). Buổi chiều Ngài đã hiện ra với hai môn đệ đi đến làng Emmau (Lc 14,13t) và cũng chiều đó, Ngài lại hiện đến với các Tông đồ, có thể có một số môn đệ ở cùng các ông.

 Có lẽ Đức Giêsu hiện ra với các ông về đêm khuya. Đang lúc hai môn đệ đi làng Emmau về kể cho các ông nghe việc Chúa hiện ra với mình, thì Đức Giêsu hiện ra. Đường đi từ Giêrusalem đến Emmau hơi xa, đi về phải muộn mới tới nơi.

 Các cửa phòng đều đóng kín, Đức Giêsu đột ngột hiện ra đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho các con”. Đây là lời chào bình thường của người Do thái mỗi khi gặp nhau. Trong bối cảnh của các Tông đồ khi đó, lời chúc của Đức Kitô chắc chắn đã có ý nghĩa đặc biệt cụ thể chứ không thể như ta chào bình thường, vì liền sau đó Ngài đã trao ban sứ mạng cho các ông.

 Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Phải chăng Đức Kitô lưu giữ các dấu thương tích như một kỷ niệm… Hay để cho các tông đồ và môn đệ xem thấy dấu vết rành rành đó mà vững tin vào sự Phục sinh của Ngài? Và Ngài thổi hơi và ban Thánh Thần: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha, các con cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,23). Hành động của Đức Kitô như lặp lại hình ảnh cuộc sáng tạo của Thiên Chúa Cha (St 1,1t). Đức Kitô qua cuộc Tử nạn và Phục sinh đã trở thành Đấng tái tạo một nhân loại mới (Ga 3,5t; Is 32,16).

 Trong bài đọc 2 trích sách Công vụ tông đồ, thánh Luca còn cho chúng ta biết thêm về ngày lễ Hiện xuống: Khi đến lễ Ngũ tuần, mọi người đang tề tựu tại một nơi, có lẽ là tại nhà Tiệc ly, với số người là 120. Bỗng nhiên trời phát ra một tiếng, nghe như tiếng gió ào ào, vang dội khắp cả nhà. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tan ra đậu xuống từng người một và ai nấy đều được đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói được tiếng nước ngoài. Sự kiện này làm cho các khách hành hương phải kinh ngạc vì ai nấy đều nghe nói tiếng bản xứ của mình. Họ phải sửng sốt và thán phục.

 Chúng ta không biết Đức Giêsu đã thiết lập Giáo hội lúc nào, nhưng chúng ta biết chắc lễ Hiện xuống là ngày Đức Giêsu khai trương Giáo hội, Ngài giới thiệu Giáo hội cho muôn dân và cũng từ hôm nay các môn đệ chính thức được sai đi đến với muôn dân: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”, để các ông rao giảng Tin mừng về Nước Trời và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Chúa Kitô.

II. CHÚA THÁNH THẦN BAN ĐẶC SỦNG NGÔN NGỮ

 Được đầy tràn Thánh Thần trong buổi sáng lễ Hiện xuống, các Tông đồ cũng đón nhận được ơn đặc sủng về ngôn ngữ. Vì thế, các ông có thể nói cho những người đến hành hương tại Giêrusalem từ khắp nơi trên thế giới: mọi người đều hiểu theo ngôn ngữ của mình. Thánh Phêrô đã dùng đặc sủng ấy mà giới thiệu Đức Giêsu Nazareth cho những người tại Giêrusalem, và qua bài giảng nảy lửa ấy, đã có 3000 người trở lại. Đặc sủng ấy vẫn còn được ban cho Giáo hội và cho mọi thành phần trong Giáo hội hôm nay.

1. Ơn nói các thứ tiếng lạ

 Sách Công vụ tông đồ thuật lại việc Chúa Thánh Thần ban đặc sủng ngôn ngữ cho các Tông đồ như sau: “Họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2, 6). Mọi người đến xem đều lấy làm lạ khi thấy các ông nói được các tiếng thổ ngữ của mình một cách thành thạo.

 Đây là một đặc sủng ngôn ngữ. Có hai cách chú giải về phép lạ ngôn ngữ này: có nhà chú giải cho rằng các Tông đồ nói tiếng lạ hoặc chỉ nói một thứ tiếng, nhưng Thánh Thần tác động trên người nghe để họ hiểu được theo tiếng của họ. Cách thứ hai thì cho rằng quả thực Thánh Thần tác động trên các Tông đồ, để các ngài có khả năng nói được các thứ tiếng ngoại ngữ. Theo mạch văn thì cách thứ hai có sức thuyết phục hơn: chính các thính giả la lên: “Chúng tôi đều nghe họ nói tiếng của chúng tôi mà ca tụng những kỳ công của Chúa” (Cv 2,11).

 Phép lạ ngôn ngữ này là hình ảnh đối lại với câu chuyện tháp Babel xưa (St 11,1-11). Câu chuyện đó là ngày xưa, ở Babel, con cháu ông Noe đang nói cùng một thứ tiếng, nghĩa là đang hiểu nhau và đoàn kết với nhau, bỗng dưng để cho tính kiêu ngạo xúi giục muốn xây một cái tháp cao hơn trời, để tỏ ra mình cao hơn Thiên Chúa, nên đã bị phạt khiến họ nói nhiều thứ tiếng, người này không còn hiểu người kia nữa, và chia rẽ nhau. Chuyện tháp Babel ngụ ý rằng khi con người không qui tụ quanh Thiên Chúa, thì sẽ chia rẽ nhau, không hiểu nhau và không còn thông cảm với nhau được…

 Hôm nay, với tác động của Chúa Thánh Thần, mọi dị biệt ngôn ngữ đã bị xoá bỏ để mọi người cùng nghe được sứ điệp Tin mừng. Nhân loại được giao hòa và hiệp nhất với nhau.

2. Nói về ngôn ngữ

 Theo từ điển Đào Duy Anh thì: tự mình nói ra là ngôn, đáp lại kẻ khác gọi là ngữ. Hay nói cách khác, ngôn ngữ là “nói năng”. Ngôn ngữ bất đồng là tiếng nói không giống nhau, không thể nói chuyện cùng nhau. Có nhiều loại ngôn ngữ, ta tạm chia làm 3 loại:

a) Ngôn ngữ bằng lời nói

 Đây là thứ ngôn ngữ dành riêng cho con người có trí khôn. Con vật dù có thông minh mấy cũng không thể sử dụng được thứ ngôn ngữ này, vì nó đòi hỏi phải có lý trí để hiểu biết lời mình nói. Con yểng, con nhồng, con sáo… có thể bắt chước tiếng người nói lại được một vài câu, nhưng chúng chỉ nói lại như cái máy vi âm chứ không hiểu biết gì cả. Vì con người có thể hiểu được lời mình nói và phải chịu trách nhiệm về lời nói đó, nên người ta mới khuyên:       Lời nói chẳng mất tiền mua,

                                                 Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau (Ca dao)

 Ngôn ngữ này cũng liên quan đến tiếng cười, tiếng khóc. Cười hay khóc đều biểu lộ niềm vui hay nỗi buồn của con người. Cười khóc cũng là đặc tính riêng biệt của con người, cần phải có sự hiểu biết thì mới có thể cười hay khóc được, con vật không có khả năng này. Vì thế người ta nói:

Làm người có miệng có môi,
Khi buồn thì khóc, khi vui lại cười. (Ca dao)

b) Ngôn ngữ bằng chữ viết

 Ngày xưa, người ta có những tư tưởng rất hay, rất thâm thúy, có cả những phát minh nữa như Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo, giáo lý của Phật Thích Ca, triết lý của Socrates, Platon, Aristote, Lão Tử, Khổng Tử… làm thế nào có thể truyền lại cho hậu thế, nếu không dùng đến ký tự, chữ viết đủ mọi loại, vì ngày xưa chưa có máy vi âm như ngày nay ?

 Trong những kim tự tháp ở Ai cập, còn có nhiều loại chữ viết kỳ bí mà ngày nay người ta cũng chưa giải mã được, chưa hiểu được ý nghĩa của những chữ viết đó.

c) Ngôn ngữ bằng cử chỉ

Khi nói tới ngôn ngữ thì không nhất thiết là phải nói tới lời nói hay nói năng, còn có một thứ ngôn ngữ khác không cần phải nói năng mà ai cũng hiểu được, đó là “cử chỉ”. Ngôn ngữ cử chỉ đây là một qui ước người ta đặt ra với nhau và cho nó một ý nghĩa để người ta có thể hiểu nhau được.

Có những cử chỉ mang một ý nghĩa phổ biến mà bất kỳ ai cũng có thể hiểu được, ví dụ: cười biểu lộ sự vui tươi, khóc biểu lộ sự buồn bã, gật đầu tỏ vẻ đồng ý, lắc đầu tỏ ý từ chối.

Dĩ nhiên có một số cử chỉ khác mang ý nghĩa theo qui ước mà người ta phải học thì mới hiểu được, ví dụ “Xê-ma-pho”, hay cử điệu bằng tay của những người câm.

3. Ngôn ngữ của chúng ta

a) Ngôn ngữ tự nhiên

Trong đời sống hằng ngày, việc trao đổi tư tưởng và tâm tình thường diễn tả bằng lời nói, vì đó là thứ truyền thông rất hiệu nghiệm và phổ biến. Chỉ có người nào câm mới bị loại trừ ra khỏi thứ ngôn ngữ này.

Chúng ta cũng phải lưu ý trong việc dùng ngôn ngữ bằng lời nói, vì nó dễ đưa tới hậu quả xấu khi chúng ta cẩu thả trong lời nói, thiếu suy nghĩ như người ta khuyên: “Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Người xưa khuyên chúng ta phải thận trọng trong lời nói:

Nhất ngôn thuyết quá, tứ mã nan truy.
(Một lời nói sai trái thì bốn con ngựa đuổi không kịp)

 Chúa Giêsu cũng nhắc nhở chúng ta là sẽ bị lên án về lời nói của mình: “Loài rắn độc kia, xấu như các ngươi, thì làm sao nói điều tốt được? Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra. Người tốt thì rút cái tốt từ kho tàng tốt của mình; kẻ xấu thì rút cái xấu từ kho tàng xấu của mình. Tôi nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của anh em mà anh em sẽ được trắng án; và cũng tại lời nói của anh em mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12,34-37; Mc 3,29; Lc 12,10).

b) Ngôn ngữ thiêng liêng hay thần bí

 Trong đời sống thiêng liêng chúng ta còn có loại ngôn ngữ thần bí mà không có cách nào diễn tả được. Đó là ngôn ngữ đức tin và ngôn ngữ của tình yêu. Chúng ta chỉ có thể có được ngôn ngữ này khi chúng ta kết hiệp mật thiết với Chúa, hai tâm hồn đã kết hợp với nhau để không còn phân biệt được Chúa nói với ta hay ta nói với Chúa, vì lúc đó “Tôi sống mà không phải tôi sống mà Chúa Kitô sống trong tôi”, tôi đã nên một với Người.

 Bình thường khi cầu nguyện thì ta nói, Chúa nghe, đôi lúc Chúa nói, ta nghe, nhưng đến giai đoạn cao nhất là không còn nói, không còn nghe. Chúng ta có thể chia thành 4 giai đoạn theo thứ tự sau đây:

1/ Ta nói, Chúa nghe.

2/ Chúa nói, ta nghe.

3/ Không ai nói, cả hai chỉ nghe.

4/ Không ai nói mà cũng không ai nghe.

                             Tất cả chỉ là một sự im lặng tuyệt đối.

                                                Truyện: Trong phòng thông dịch viên

 Người ta mới phát minh được một cái máy kỳ diệu. Nó là một óc điện tử có thể dịch ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Hiện thời, máy chỉ có thể dịch tiếng Nga sang tiếng Anh. Nhưng bước đầu đã thành công, một bước tiến vĩ đại, và chắc thế nào những bước sau cũng sẽ thành công hơn.

 Hiện nay trong những hội nghị quốc tế chẳng hạn như hội nghị Minh ước Bắc Đại tây dương ở Paris, hay tại Liên hợp quốc ở New York, người ta còn phải dùng thông dịch viên, đây cũng là một thành công chói lọi của kỹ thuật tân tiến. Các đại biểu trong hội nghị chỉ cần đưa máy nghe lên tai, thì tức khắc họ sẽ nghe diễn giả đang nói tiếng Ba tư nói thành tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Ý… từng câu một, toàn thể bài diễn văn được dịch ra và truyền lại cho các thính giả nghe.

 Người ta có thể so sánh việc này với phép lạ về ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần hiện xuống. Lúc các Tông đồ còn đang sợ sệt lo ngại vì Đức Giêsu đã lên trời. Họ đóng cửa ở trong phòng, không biết làm thế nào để thực hiện được lời Chúa dạy là biến đổi thế gian. Rồi một buổi sáng nọ, bỗng nhiên Chúa Thánh Thần hiện xuống dưới hình thức cơn gió lốc. Các Tông đồ tự nhiên thấy vững tâm mạnh dạn. Họ mở cửa, ra ngoài đường và bắt đầu giảng. Trước mặt họ là một đám đông dân chúng hỗn độn, gốc cả 15 nước và nói 15 thứ tiếng. Thế mà khi Tông đồ nói, mỗi người nghe như Tông đồ nói tiếng xứ mình. Tất cả đều hiểu rằng Tông đồ giảng về Tình thương và Hoà bình. Thông dịch viên là ai? Đó là Đức Chúa Thánh Thần.

4. Ngôn ngữ và loan báo Tin mừng

 Thánh Phaolô bảo: có nhiều đặc sủng, có nhiều cách phục vụ khác nhau trong Giáo hội. Nhưng các đặc sủng ấy chỉ nhằm phục vụ lợi ích chung… Khi chúng ta được chịu phép rửa tội và đặc biệt trong ngày lễ hôm nay, Chúa Thánh Thần đều ban cho mỗi người chúng ta đặc sủng ngôn ngữ, để chúng ta loan báo Tin mừng, để làm trọn sứ mạng tiên tri của mình.

 Ngôn ngữ đây không nhất thiết phải là lời nói hay chữ viết, mà là cử chỉ, điệu bộ; hay nói cách khác, ngôn ngữ này là chính con người chúng ta, cuộc sống thực tế hằng ngày của ta. Loan báo Tin mừng bằng lời nói hay chữ viết có thể vượt trên khả năng của ta, nhưng ngôn ngữ bằng cuộc sống hằng ngày thì phù hợp với tất cả mọi người, trong mọi hoàn cảnh. Chính cuộc sống gương mẫu của ta là một bằng chứng hùng hồn nói lên sự hiện hữu của Thiên Chúa. Gương sáng của ta là một sức mạnh lôi kéo mọi người đến với Chúa, một việc làm có tính cách thuyết phục đến nỗi không thể từ chối được. Vì:

Lời nói như gió lung lay, Gương bày như tay lối kéo (Tục ngữ)

 Ánh sáng soi vào trong đêm tối sẽ làm cho bóng tối biến đi. Sứ mạng của ánh sáng là phải chiếu vào nơi tối tăm, mà chúng ta là ánh sáng thế gian (Mt 5,14) thì chúng ta có nhiệm vụ phải làm cho thế gian u tối phải bừng lên ánh sáng Chúa Kitô như lời Ngài dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).

 Chính cuộc đời gương mẫu của ta sẽ trở thành một bài giảng hùng hồn khiến họ cảm phục, một bài giảng không cần dùng lời nói mà có sức lôi kéo không thể cưỡng lại được, dĩ nhiên phải cùng với sự hỗ trợ của Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hoá Giáo hội và mỗi người.

Truyện: Bài giảng biết đi

 Một buổi chiều của năm 1953, các ký giả và một số nhân viên chính phủ tập trung tại một nhà ga xe lửa ở Chicago, Hoa Kỳ để chào đón một người được giải thưởng Nobel hòa bình năm 1952.

 Người vừa xuống khỏi xe lửa là một người đàn ông to lớn, tóc ngắn và mang một chòm râu cắt gọn ghẽ. Các máy hình chớp liên hồi. Các nhân viên cao cấp của thành phố dang rộng tay để đón chào vị thượng khách.

 Người được giải Nobel hòa bình cám ơn mọi người, rồi bỗng đưa mắt nhìn vào một chỗ nào đó trên sân ga. Ông xin kiếu vài phút để đi thẳng về hướng ấy. Mọi người đều tưởng ông đã để quên một hành lý nào chăng.

 Ông băng qua đám đông đi thẳng tới một người đàn bà có tuổi đang khệ nệ với hai vali nặng. Ông giơ tay đỡ lấy một chiếc vali, mỉm cười với bà rồi dẫn bà ra một chiếc xe buýt gần đó. Khi giúp người đàn bà lên xe, ông không quên chúc bà thượng lộ bình an. Quay lại với đám đông đang chờ đợi, ông nói: “Xin lỗi quí vị vì đã bắt quí vị chờ đợi”.

 Người được giải Nobel hòa bình năm 1953 ấy, không ai khác hơn là bác sĩ Albert Schweitser, nhà truyền giáo nổi tiếng đã hy sinh cả cuộc đời cho những người nghèo tại Phi châu. Chứng kiến cử chỉ của ông, một người trong ban tổ chức đón tiếp ông hôm đó, đã nói với một ký giả: “Đây là lần đầu tiên tôi thấy một bài giảng biết đi”. (R.D. Wahrheit, Ánh sáng hy vọng, tr 41-42)

Suy niệm 3 (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống trong ngày lễ Ngũ tuần của người Do Thái: năm mươi ngày sau lễ Vượt qua – dịp Chúa Giêsu thực hiện giao ước mới bằng chính máu của Ngài trên thập giá và Phục sinh. Qua việc chọn ngày lễ Ngũ tuần để thực hiện biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ, Chúa Giêsu muốn cho các ngài hiểu rằng từ nay, đây là ngày lễ của giao ước mới, từ giao ước mới này, Giáo hội được khai sinh, và từ giao ước mới này, mỗi tín hữu được mời gọi sống đời sống mới, một cuộc sống làm chứng cho Chúa Kitô…

Câu chuyện

Các tù nhân đi trại cải tạo về chia sẻ lại, nhà tù kín mít chỉ có chiếc ô thông gió nhỏ xíu, nhưng đó là nơi các anh em tù nhân thay phiên nhau cố gắng lại gần để hít thở… Lúc được ra ngoài lao động là lúc cố gắng thở bù… Nhờ vậy, anh em mới giữ được cái tâm bình an và thân xác khỏe mạnh. Trong những điều kiện khó khăn về hít khí trời, chúng ta mới cảm nghiệm được sự cần thiết của không khí trong lành…

Hơi thở luôn là biểu lộ dấu hiệu của cuộc sống: Hơi thở còn chúng ta còn tồn tại. Không còn hơi thở, cuộc sống chúng ta mất. Hơi thở quan trọng cho con người vì nuôi sống cơ thể bằng dưỡng khí của trời đất. Hơi thở gắn bó chặt chẽ với nhịp điệu sinh hoạt thân xác và tinh thần của chúng ta…, hơi thở thật nhẹ nhàng, khoan khoái khi chúng ta thanh thản, bình an…

Hơi thở là hình ảnh nói về Chúa Thánh Thần, Chúa Kitô phục sinh, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”… (Ga 20,22-23).

Suy niệm

Thánh Thần Thiên Chúa hiện diện trong thế giới như là khí trời, nghĩa là ở mọi nơi, mọi lúc và nguồn sự sống cho con người. Ngài được mệnh danh là “Paraklêtos”, nghĩa là Thần Khí Sự Thật theo ngôn từ của Thánh Gioan (x. Ga 14,17; 15,26; 16,13) Ngài chính là Ngôi Ba Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, tùy văn mạch Thánh Thần hay Thần Khí được hiểu là Đấng Bảo Trợ, Đấng Bầu Chữa, Vị Tôn Sư hay Người Hướng Dẫn… (x. Ga 14,16; 15,26; 16,5-15). Ngài đã hiện diện ngay từ thuở ban đầu trong công trình tạo dựng đất trời: “Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1,2). Khi tạo sự sống cho con người, Thiên Chúa trao ban hơi thở – Khí Thần của Ngài cho con người để con người có sự sống (St 2,7). “Khí Thần”, nguyên ngữ Do Thái được dùng nơi đây là RUAH, nghĩa là Gió, là Hơi Thở, là Thần Khí. Trong Kinh Thánh, RUAH là Thần Khí của Thiên Chúa. Trong ngày Phục sinh, Chúa Kitô sống lại hiện ra với các tông đồ, thánh Gioan nhấn mạnh: “Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: Hãy chịu lấy Thánh Thần!” (Ga 20,22). “Thổi hơi” gợi lại công trình sáng thế, cách đặc biệt với con người (x. St 2,7).

Chính Thần Khí, hơi thở của Thiên Chúa phục sinh như thánh Augustinô giải thích: “Khi gửi Thần Khí bằng hơi thở, Đức Kitô khẳng định Thần Khí không chỉ của Cha, nhưng còn là Thần Khí của chính Ngài như Thần Khí từ Cha”. Thần Khí nơi Chúa Kitô phục sinh làm cho các tông đồ nên những con người mới: từ sợ hãi nên vui mừng hân hoan. Thần Khí đã tác động và biến đổi các tông đồ kể từ lễ Ngũ tuần sau lễ Phục sinh, trở thành những chứng nhân can đảm bất khuất, vượt qua mọi khó khăn tù đày để loan báo Tin Mừng (x. Cv 2-28). Đó chính là Đấng Bảo Trợ đến như lời hứa của Đức Kitô trong diễn văn tiệc ly (x. Ga 15,13-15).

Không có không khí con người sẽ chết, không có Thần Khí nhân loại không thể sống, bởi chính Ngài là hơi thở của đời sống, không chỉ cho thể xác mà còn cho tâm linh, cho nên thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy bước đi theo Thần Khí (Gl 5,16-18) bước đi theo Thần Khí, để Thần Khí dẫn đưa để được trở nên những người con tự do của Thiên Chúa như Ngài xác tín: “Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do” (2Cr 3,17). Tự do viên mãn, không bị lệ thuộc của thế gian, không bị trói buộc của mọi hình thức nô lệ từ ngay chính tình trạng nơi nội tại bản thân đến ngoại cảnh bên ngoài. Vâng, vì “hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an (Rm 8,6). Chính Thần Khí sẽ giúp điều hòa con người khỏi mọi bệnh tật thể xác và tâm linh: “Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh” (1Cr 12,9), chữa bệnh cho chính mình: bệnh tâm linh, bệnh thể xác và làm chữa bệnh tha nhân qua sứ mạng sống Tin Mừng nơi Kitô hữu như các tông đồ xưa đến với anh em và dân ngoại.

Tâm hồn luôn được đổi mới nhờ tác động của Thần Khí, vì thế như Thánh Phaolô kêu gọi: “Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em” (Ep 4,23). Thần Khí đổi mới chính chúng ta để luôn được mới, luôn tươi trẻ dù tuổi tác có tăng với thời gian. Tinh thần mới và trẻ trung mang “hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín” (Gl 5,22).

Mỗi ngày, mỗi phút, mỗi giây của cuộc sống, chúng ta cùng đặt vào trong hơi thở Thánh Linh như Thánh Phaolô dạy “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25).

Ý lực sống

“Xin đừng cất khỏi con Thần Khí thánh của Ngài”.
(Tv 51)

Suy niệm 4 (song ngữ)

Pentecost Sunday
Reading I: Acts 2:1-11
Reading II: 1Cor 12:3-7,12-13

Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống
Bài Đọc I: Cv 2,1-11
Bài Đọc II: 1Cr 12,3-7.12-13

Gospel
John 20:19-23

19 On the evening of that day, the first day of the week, the doors being shut where the disciples were, for fear of the Jews, Jesus came and stood among them and said to them, “Peace be with you”.
20 When he had said this, he showed them his hands and his side. Then the disciples were glad when they saw the Lord.
21 Jesus said to them again, “Peace be with you. As the Father has sent me, even so I send you”.
22 And when he had said this, he breathed on them, and said to them, “Receive the Holy Spirit.
23 If you forgive the sins of any, they are forgiven; if you retain the sins of any, they are retained”.

Phúc Âm
Gioan 20,19-23

19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an!”
20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.
21 Người lại nói với các ông: “Chúc anh em được bình an ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”.
22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.
23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.

Interesting Details

  • (v.19) The disciples were afraid. They did not respond to Jesus’ appearance or greeting. They probably did not even recognize him.
  • (v.20) Jesus identified himself by his hands and his side, which is to say, his suffering. This brought recognition and joy.
  • (v.21) Jesus sent the disciples to continue his mission.
  • (v.22) “He breathed on them”. The word Spirit means breath, wind, and symbolizes power. Wind was experienced as a powerful force in the ancient world. People in the Old Testament considered the wind as God’s breath, or God’s power and spirit. Therefore in Genesis God’s breath gave life to Adam, and now bestows even a greater life as God’s children.
  • (v.23) John mentioned “sin” (singular) 25 times and “sins” (plural) only 6 times. The singular form indicates an evil force in general, instead of a list of specific sins.
  • See also the explanations on the second Sunday of Easter (Jn 20:19-31).

Chi Tiết Hay

  • (c.19) Khi Chúa hiện ra, các môn đệ sợ hãi, không biết phản ứng thế nào, và có lẽ cũng không nhận ra Chúa Giêsu nữa.
  • (c.20) Chúa tỏ mình ra bằng cách chỉ cho các môn đệ dấu đinh ở tay và cạnh sườn. Dấu đinh tượng trưng cho cuộc khổ nạn. Khi thấy các dấu này, các môn đệ vui mừng.
  • (c.21) Chúa Giêsu sai các môn đệ tiếp tục sứ mạng của Ngài.
  • (c.22) Ngài thổi hơi lên các ông. Chữ “Thần” trong tiếng Do Thái có nghĩa là hơi thở hay làn gió, và tượng trưng cho sức mạnh. Dân gian thuở xưa coi gió là một sức mạnh kinh khủng. Trong Cựu Ước, gió được coi là hơi thở và sức mạnh của Thượng Đế. Như trong Sáng Thế Ký, hơi thở của Chúa ban sự sống cho Adong. Ngày nay hơi thở này ban một sự sống quan trọng hơn, là sự sống của con Thiên Chúa.
  • (c.23) Khi nói tới “tội” Thánh Gioan hay dùng số ít (25 lần) hơn là số nhiều (6 lần). Tội theo số ít chỉ sự dữ cách chung, thay vì danh sách liệt kê các tội riêng biệt.
  • Xin coi thêm bài giải thích Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh (Gioan 20,19-31).

One Main Point

The disciples receive the Holy Spirit and Jesus’ mission.

Jesus breathed on the disciples to give them new life as children of God. With this new life or new force, they will be able to fight against sin or the forces of evil.

Một Điểm Chính

Các môn đệ nhận lãnh Chúa Thánh Thần và tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu thổi hơi lên các môn đệ để ban cho họ sự sống mới làm con cái Thiên Chúa. Với sức sống mới này, họ sẽ có thể chiến đấu với thần dữ.

Reflections

  1. See Jesus saying to me “Peace be with you” repeatedly. Notice his tone, his gestures, his eyes, and so on.
  2. Feel Jesus’ breath on me. Have I received such a “holy force” ? Have I ever felt it, and if so, when ?
  3. With that holy force, do I struggle against sin or the evil force (my own evil tendencies as well as those in the greater society around me) ?

Suy Niệm

  1. Hãy hình dung Chúa Giêsu nói với tôi nhiều lần câu “Bình an cho con”. Để ý tới dung mạo, cử chỉ, giọng nói, ánh mắt, và các chi tiết khác về Người.
  2. Hãy cảm nhận hơi thở của Chúa. Đã bao giờ tôi cảm nhận được sức mạnh của Thánh Thần Chúa chưa ? Khi nào ?
  3. Với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, tôi có chống trả lại sự dữ trong tôi hay trong xã hội không ?

Nguồn: WGPSG

 

 

 

Share.

About Author

Comments are closed.